Tại sao phải giáo dục sớm cho trẻ?

lẽ khi nói về giáo dục sớm cho trẻ, chúng ta thường được nghe ở đâu đó một câu rất quen thuộc, đó là: “Đừng làm mất đi sự ngây thơ trong sáng của trẻ”. Còn ở Nhật Bản, trong những năm 60 của thế kỷ 20, một bộ phận các học giả, trí thức, truyền thông và phụ huynh ở Nhật Bản cho rằng giáo dục sớm là “ép con thành thần đồng, là giết chết tuổi thơ của con trẻ, phá hỏng tình cảm giữa cha mẹ và con cái, gây ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển của xã hội sau này…”(1). Tuy nhiên, những tiến bộ khoa học và những nghiên cứu thực tế đã cho thấy tính đúng đắn của giáo dục sớm. Sau đó giáo dục sớm trước giai đoạn đi học đã được chính phủ Nhật Bản coi trọng và áp dụng ở những bậc giáo dục nhà trẻ, giáo dục mầm non, vì những nguyên nhân sau đây:

1. Đứa trẻ nào cũng sẽ phát triển tài năng khi được giáo dục từ 0 tuổi

 “Nhiều năm trước có một thiếu niên đã tốt nghiệp Đại học Havard khi mới 15 tuổi. Người thiếu niên đó có tên là William James Sidis, con trai của nhà tâm lý học nổi tiếng Boris Sidis, và thành tích học tập này được coi là hết sức kỳ diệu.

  William James Sidis tốt nghiệp Đại học Havard khi mới 15 tuổi

Cậu bé William bắt đầu được học từ khi 1 tuổi rưỡi, và đến lúc 3 tuổi đã biết đọc biết viết tiếng mẹ đẻ. Lên 5 tuôi, khi nhìn thấy tiêu bản một bộ xương trong nhà, cậu bé đặc biệt hứng thú với cấu tạo cơ thể người và bắt đầu bước vào môn Sinh lý học, không lâu sau đã đạt được trình độ học vấn tương đương với người có chứng chỉ hành nghề y thuật.

Vào mùa xuân năm lên sáu tuổi, cậu đến trường tiểu học cùng những đứa trẻ khác. Ngày nhập học, Willam vào lớp 1 lúc 9 giờ, và đến 12 giờ khi mẹ đến đón, cậu đã học xong lớp 3. Trong năm đó, cậu bé đã học xong tiểu học. Lên 7 tuổi Willam muốn học tiếp trung học nhưng vì tuổi còn nhỏ nên bị từ chối và phải học ở nhà, hầu hết là học về Toán học. Năm 8 tuổi cậu vào trường Trung học, môn nào cũng xuất sắc, đặc biệt là Toán học, đã có thể giúp thầy sửa bài cho những học sinh khác. Thời gian đó, Willam đã viết sách Thiên văn học, ngữ pháp tiếng Anh, tiếng Latinh. Những kiến thức Trung học tất cả đã được cậu nắm vững và chẳng mấy chốc đã tốt nghiệp

Cũng trong năm đó, cùng tuổi với Sidis còn có một thiếu niên khác cũng tốt nghiệp Havard, là Adoref Bar, con trai của Giảng viên môn Thần học trường ĐH Taft. Cậu vào học
sau Sidis một chút, khi 13 tuổi rưỡi, tuy nhiên thay vì học 4 năm như mọi người, cậu chỉ học mất 3 năm. Sau đó cậu tiếp tục theo ngành Luật.

Ngoài ra vẫn còn một người khác, con trai của Tiến sĩ ngôn ngữ Slav, tên là Nobert Wiener. Cậu vào học Đại học trước Sidis, đúng ra là học ĐH Taft từ năm 10 tuổi, và đến năm 14 tuổi thì tốt nghiệp và học tiếp Cao học tại Havard, đỗ Tiến sĩ năm 18 tuổi. Đọc những điều ở trên người ta chắc hẳn sẽ nghĩ đấy chính là những Thần đồng trên thể giới. Nhưng, từ xa xưa đã có câu nói “ 10 (tuổi) là Thần đồng, 15 là Tài tử, còn trên 20 lại là người bình thường”, và chỉ có con cái của chính chúng ta mới là những bông hoa đẹp. Nếu ta chỉ làm được 1 chút và giải thích rằng ta chỉ là người bình thường, còn để là những Thần đồng trong một chốc lát đã học xong Đại học, thì là của hiếm, cách nghĩ đó là hoàn toàn sai lầm! Những người đó không phải một cách ngẫu nhiên được sinh ra đã là Thần đồng. Họ là kết quả của nhiều nền giáo dục, là những anh tài được đào tạo.

Bar và Nobert cũng có anh chị em, và cũng được trải qua quá trình học tập như nhau. Chị gái của Bar là Lina, trong khi Bar học tại Havard thì ở tuổi 15, Lina cũng vào học tại Đại học nữ Radcliffe và cùng đồng thời tốt nghiệp với Bar. Và, em gái của Wiener là Constans cũng vào học tại Radcliffe năm 14 tuổi, và cô em gái kế tiếp là Berta cũng vào học trong cùng năm ở tuổi 12.

Không thể có sự ngẫu nhiên nào như thế. Đó thực sự là kết quả của việc giáo dục mà nên.

Nhưng, sự giáo dục cũng có nhiều loại, và nền giáo dục đó là như thế nào? Có thể nói nó cũng tựa như việc nuôi dưỡng trong nhà kính. Những cô bé cậu bé đó, cũng giống như là hoa trong nhà kính, được nhân tạo để ra hoa kết trái sớm, vì thế trở thành những thần đồng. Nói cách khác, đó chính là Thần đồng nhân tạo, và cũng sẽ không tránh khỏi sự tồn tại của bệnh tật, già lão, cũng như không tránh khỏi quy luật “từ 20 trở đi lại là người bình thường”.”(2)

Xem thêm: Mười cách dạy con học tiếng Anh tại nhà (Phần 1)

2. Trẻ có thể tiếp thu mọi kiến thức trong giai đoạn từ 0 đến 3 tuổi

Nagata Mashuo là một người cha nổi tiếng với việc giáo dục con mình từ tuổi ấu thơ. Ông đã từ bỏ công việc làm giáo viên lâu năm để dành hết tâm huyết nuôi dạy con. Khi ông bắt đầu áp dụng phương pháp giáo dục sớm cho con mình thì cậu con trai mới được 5 tuổi và cô con gái mới được 3 tháng. Kết quả là hai anh em nhà Nagata đã được ví là hai anh em thần đồng vì có thể nói thành thạo 5 thứ tiếng Anh, Tây Ban Nha, Ý, Anh, Pháp, Đức. Khi đó đã có rất nhiều ý kiến lên án ông bà Nagata đã nhồi nhét, bắt ép con mình học quá nhiều. Đa số mọi người đều cho rằng, đối với trẻ nhỏ, việc bị nhồi nhét quá nhiều thứ vào đầu sẽ là gánh nặng tâm lý, tạo ra áp lực, làm cho trẻ phát triển không bình thường như những đứa trẻ khác. 

Nhưng đáp trả lại dư luận, thực tế gia đình Nagata rất bình yên hạnh phúc, con cái khỏe mạnh. Đó chính là câu trả lời đúng đắn nhất cho những hoài nghi của dư luận.

“Cho trẻ học 5 ngoại ngữ cũng một lúc không sợ trẻ bị loạn chữ hay sao?” là câu hỏi của rất nhiều người. Thực tế, những chương trình dạy tiếng nước ngoài rất nhẹ nhàng. Và bởi vì khả năng tiếp thu của trẻ thơ trong giai đoạn từ 0 đến 3 tuổi cao hơn người lớn chúng ta rất nhiều nên những lo lắng như “nhồi nét quá nhiều” là không cần thiết. Khả năng tiếp thu những kích thích của trẻ không khác gì một miếng bọt biển, khi nào đã hấp thu đầy đủ thì não sẽ tự nhiên dừng lại.

                             Trẻ từ 0 đến 3 tuổi có thể học 5 ngoại ngữ cũng một lúc

Chính vì thế, từ câu chuyện của gia đình Nagata, điều chúng ta cần suy nghĩ không phải là việc nhồi nhét quá nhều vào đầu trẻ mà là cho trẻ tiếp xúc quá ít với những kích thích từ bên ngoài” (3).

Xem thêm: Cách dạy con học tiếng Anh tại nhà khi bạn không biết tiếng Anh

3. Thời kì trẻ thơ nếu trẻ không được dạy cái gì thì sẽ mãi mãi không biết cái đó

Nếu ta trồng một cái cây và để nó tự phát triển thì có thể nó sẽ không sống được, cũng có thể vẫn sống và cao đến 1m, nếu ta chăm sóc nó có thể cao đến 1.5m, chăm sóc tốt hơn nữa có thể được 1.8m, 2m hay hơn thế. Một con người cũng như vậy. Đứa trẻ sinh ra sẵn có 100 phần năng lực, nhưng nếu cứ để một cách tự nhiên thì có thể chỉ phát triển được 20, 30 phần. Nếu được giáo dục tốt có thể khi trưởng thành sẽ phát triển đến 60, 70 phần, hay tốt hơn là được 80, 90 phần. Lý tưởng nhất là đứa trẻ được giáo dục để phát huy được đủ 100 phần năng lực của mình. Nhưng năng lực của trẻ tồn tại theo quy tắc giảm dần: Nếu được giáo dục tốt từ khi sinh ra thì có thể đạt được đủ 100 phần, nhưng nếu bắt đầu giáo dục từ khi 5 tuổi thì dù có làm tốt đến mấy cũng chỉ phát huy được 80 phần, nếu bắt đầu từ 10 tuổi thì tối đa chỉ được 60 phần.
Nghĩa là, thời điểm bắt đầu càng muộn bao nhiêu thì khả năng phát huy năng lực sẵn có cũng giảm đi bấy nhiêu.

Vậy tại sao lại có quy tắc giảm dần này?

Đối với mỗi loài động vật, khả năng của chúng đều có một thời kỳ phát triển nhất định. Đương nhiên có những khả năng mà thời kỳ dành cho việc phát triển là khá dài, nhưng có những khả năng chỉ có thể phát triển trong một thời gian rất ngắn, và nếu nó không được phát triển trong thời gian đó thì sẽ vĩnh viễn mất đi. Lấy ví dụ kỳ phát triển “khả năng theo dấu gà mẹ” của gà con là thời gian sau khi sinh được khoảng 4 ngày, nếu trong vòng 4 ngày mà tách gà con khỏi gà mẹ thì sau đó gà con sẽ không bao giờ biết đi theo gà mẹ nữa. Hay là kỳ phát triển “khả năng nghe được tiếng gà mẹ” là thời gian sau khi sinh 8 ngày, nếu trong vòng 8 ngày mà gà con không được nghe tiếng gà mẹ thì sau đó cũng sẽ không bao giờ nhận dạng được tiếng đó nữa.

Đối với chó con cũng có 1 khả năng gọi là “chôn những thức ăn thừa vào đất”. Khả năng này cũng chỉ tồn tại trong một thời gian nhất định, mà nếu đúng vào thời gian đó, chó con được nuôi trong ngôi nhà không có chỗ để chôn những thứ này thì sau này nó cũng sẽ không bao giờ biết làm việc đó nữa.

Con người chúng ta cũng như vậy. Có một mùa hè tôi đến một ngôi làng làm ngư nghiệp và gặp một ngư dân, ông than phiền với tôi rằng, gần đây chẳng có người nào bơi giỏi, chèo thuyền, quăng lưới giỏi như trước nữa, bởi vì vào tuổi 11, 12thời kỳ rất quan trọng để bắt đầu cho việc đó thì các em đều phải đến trường. Tôi cũng từng nghe rằng khi chính phủ đưa ra chính sách phổ cập giáo dục thì số lượng những nghệ nhân trong lĩnh vực thủ công hầu như không có. Hay đối với việc học ngoại ngữ, nếu không bắt đầu từ trước 10 tuổi thì sau này cũng sẽ không khá được. Học piano thì muốn thành tài nhất thiết phải bắt đầu trước 5 tuổi, còn violon thì lại phải từ lúc 3 tuổi… Mỗi chúng ta đều có cơ hội để phát triển khả năng của mình, nhưng nếu bỏ qua thời kỳ của sự phát triển đó thì từng thứ một sẽ vĩnh viễn mất đi. Đấy gọi là sự giảm dần khả năng tiềm tàng của trẻ. Và “giáo dục từ sớm là đào tạo nhân tài”chính là ở dựa trên quan điểm đó.

                   Thời kì trẻ thơ, nếu trẻ không được dạy cái gì sẽ mãi mãi không biết cái đó

Nhưng, độc giả có thể sẽ lo lắng cho sức khỏe của con mình nếu được giáo dục từ sớm. Thật ra đây cũng là vấn đề nan giải mà từ xưa người ta đã nghĩ đến. Cha của Witte, cha của anh em nhà Thomson,…đều phải đối mặt với vđề này. Nhưng trên thực tế, nhưng người ma ta đã tìm hiểu ở trên tất cả đều có sức khỏe tốt: Witte sống đến 83 tuổi, Huân tước Kelvin thọ 83 tuổi, James Thomson 70 tuổi…Tóm lại là không có bằng chứng nào về việc giáo dục từ sớm ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ” (4).

Xem thêm: Mười cách dạy con học tiếng Anh tại nhà (Phần 2)

Tài liệu tham khảo:

(1). Trích trong quyển “Chờ đến mẫu giáo thì đã muộn”

(2). Trích trong quyển ” Thiên tài và giáo dục từ sớm”

(3). Trích trong quyển “Chờ đến mẫu giáo thì đã muộn”

(4). Trích trong quyển ” Thiên tài và giáo dục từ sớm”

Post Comment